Viêm Phổi Là Gì? Có Nguy Hiểm Không? Dấu Hiệu Và Điều Trị

Viêm phổi là một trong những căn bệnh liên quan đến đường hô hấp khá nghiêm trọng. Nếu không được chữa trị kịp thời và đúng cách, rất có thể người bệnh sẽ gặp nguy hiểm đến tính mạng. Trong bài viết dưới đây, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu chi tiết hơn về các kiến thức tổng quan của căn bệnh này.

Viêm phổi là gì?

Tìm hiểu về bệnh lý viêm phổi là gì?

Tìm hiểu về bệnh lý viêm phổi là gì?

Đây là tình trạng các phế nang trong phổi bị viêm, thường do yếu tố nhiễm trùng gây ra. Điều này khiến cho các tổ chức tại phổi bị ảnh hưởng và các chức năng phổi bị hạn chế. Vị trí viêm có thể chỉ xảy ra tại một số vị trí cố định, cũng có thể xuất hiện ở một vài vùng khác nhau, thậm chí nặng hơn là lan rộng ra toàn bộ phổi.

Viêm phổi có thể xảy ra ở mọi đối tượng, không phân biệt độ tuổi và giới tính. Chúng cũng có thể có nhiều mức độ khác nhau, từ nhẹ cho đến nặng. Song nhìn chung, một khi đã mắc bệnh, các triệu chứng sẽ tiến triển rất nhanh và trở nặng nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách.

Triệu chứng viêm phổi 

Giống như đa số các dạng viêm khác, người bị bệnh cũng thường xuất hiện các dịch mủ tại vị trí viêm. Đó có thể là ở các phế nang, túi khí của một hoặc cả hai bên phổi. Đồng thời, cơ thể người bệnh cũng sẽ có những biểu hiện và triệu chứng điển hình như sốt, ho, khó thở, đau tức ngực, đau cơ, mệt mỏi, da xanh tím, xám xịt. Thậm chí, khi tình trạng ho quá dữ dội, một số người bệnh còn có thể nôn mửa hoặc bị tiêu chảy nhẹ.

Nhìn chung, những triệu chứng trên có phần tương đối giống với những dấu hiệu của các bệnh lý về đường hô hấp nói chung. Vì thế, người bệnh thường sẽ bị nhầm lẫn giữa viêm phổi với các bệnh thông thường như viêm họng, viêm phế quản. Tuy nhiên, bạn cũng có thể phân biệt chúng bằng một vài sự khác biệt nho nhỏ.

Ví dụ như khi bị viêm phổi, người bệnh có xu hướng ho có đờm thay vì ho khan như khi mắc các bệnh viêm đường hô hấp trên. Cùng với đó, dịch đờm sẽ thường có màu vàng hoặc hơi xanh, thậm chí còn có màu đỏ của máu. Hơn nữa, so với các bệnh lý hô hấp khác, bệnh cũng khiến người bệnh cảm thấy mệt mỏi, khó chịu hơn rất nhiều.

Viêm phổi nặng là như thế nào?

Một người được cho là bước sang giai đoạn nặng khi tình trạng viêm đã diễn ra trong nhiều lần và tái phát liên tục. Điều này khiến cho các nhu mô phổi bị xơ hóa, giảm độ đàn hồi và mất đi độ mềm mại vốn có của phổi. Khi đó, người bệnh sẽ gặp phải các triệu chứng cực kỳ nghiêm trọng như suy hô hấp, tím tái toàn thân, rút lồng ngực.

Tình trạng viêm phổi nặng là như thế nào?

Tình trạng viêm phổi nặng là như thế nào?

Cùng với đó, họ cũng thường sốt rất cao, thậm chí có thể dẫn đến co giật và ảnh hưởng tới hệ thần kinh. Bệnh nhân chán ăn, mệt mỏi, sụt cân nhanh, thậm chí có thể rơi vào trạng thái lơ mơ và hôn mê li bì. Khi gặp phải những dấu hiệu trên, cần nhanh chóng gọi bác sĩ để có phương án xử trí kịp thời.

Nguyên nhân viêm phổi 

Nhìn chung, bệnh có thể xảy ra do rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, người ta thường chia thành 4 nhóm nguyên nhân chính: Do vi khuẩn, virus, do nấm và do hóa chất.

Viêm phổi do vi khuẩn

Bệnh do vi khuẩn là nhóm nguyên nhân tương đối phổ biến ở những người trường thành và thường lan truyền rất nhanh trong cộng đồng. Thông qua các tiếp xúc hàng ngày như nói chuyện, ho hay hắt hơi, những người khỏe mạnh khi hít hoặc nuốt phải các giọt bắn từ người bệnh sẽ mang những vi khuẩn trong cơ thể.

Nguyên nhân gây bệnh viêm phổi do vi khuẩn

Nguyên nhân gây bệnh viêm phổi do vi khuẩn

Thông thường, lượng vi khuẩn nhỏ này sẽ bị hệ miễn dịch tấn công và loại bỏ nên chúng ta vẫn khỏe mạnh. Tuy nhiên, một khi sức đề kháng của cơ thể suy yếu, nhất là khi ta mắc phải các bệnh lý nền mãn tính thì nguy cơ mắc bệnh do vi khuẩn là rất cao.

Khi bị nhiễm vi khuẩn và viêm phổi, người bệnh thường ho có đờm và sốt rất cao (trên 38 độ C). Toàn bộ cơ thể của họ cảm thấy mệt mỏi rã rời, kèm theo cảm giác đau tức ngực và khó thở. Trong các trường hợp này, bác sĩ sẽ chỉ định điều trị bệnh bằn các loại kháng sinh. Cùng với đó là một số phương pháp hỗ trợ khác như bù dịch, cân bằng điện giải và hỗ trợ thở oxy bằng máy.

Viêm phổi do virus

Sau vi khuẩn, virus là nhóm nguyên nhân phổ biến thứ hai gây ra bệnh. Các loại virus này có thể là virus cúm hoặc virus gây cảm lạnh thông thường. Song, chúng cũng có thể là các chủng virus mới hoặc nhóm virus đặc biệt nguy hiểm như Sars-Cov-2. Người bệnh lúc này sẽ có các triệu chứng điển hình của các bệnh lý viêm đường hô hấp.

Tuy nhiên, khác với do vi khuẩn, người bị viêm phổi do virus không ho có đờm mà ho khan. Nếu người bệnh chuyển sang ho có đờm, điều này chứng tỏ họ đã bị bội nhiễm vi khuẩn.

Nhìn chung, bệnh do nhóm nguyên nhân này sẽ có các triệu chứng từ mức độ rất nhẹ cho đến nghiêm trọng. Kháng sinh sẽ không được sử dụng trong trường hợp này. Thay vào đó, các bác sĩ sẽ chỉ định người bệnh uống các loại thuốc hạ sốt, thuốc chống viêm không steroid và hỗ trợ thở oxy nếu cần.

Trong quá trình chăm sóc người bệnh viêm phổi, bạn cũng cần chú ý giữ khoảng cách để tránh các virus lây nhiễm từ người bệnh sang người lành. Tốt nhất, hãy đưa người bệnh đi khám tại bệnh viện để chắc chắn rằng họ không nhiễm các chủng virus mới nguy hiểm như Sars-cov.

Viêm phổi do nấm

So với 2 nhóm nguyên nhân trên, bệnh do nấm là tình trạng không quá phổ biến. Thông thường, tình trạng này sẽ xảy ra khi hệ miễn dịch của người bệnh bị suy yếu quá mức. Điều này có thể xuất phát từ các lý do như hóa trị liệu ung thư, người bệnh nhiễm HIV, đang điều trị bệnh tự miễn hoặc đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch sau ghép tạng,…

Đôi khi, chúng cũng có thể xảy ra do người bệnh hít phải các bào tử nấm. Những người này thường có đặc thù nghề nghiệp là phải tiếp xúc nhiều với đất hay bụi bẩn, ví dụ như nông dân, người làm vườn, công nhân công trường xây dựng,…

Viêm phổi do hóa chất

Ngoài những nguyên nhân trên, người bệnh cũng có thể xuất phát từ lý do tiếp xúc với hóa chất. Đây là dạng cực kỳ hiếm gặp, mang tính đặc thù cao và rất nguy hiểm. Bởi, ngoài việc tác động trực tiếp tới phổi, các hóa chất dạng hơi, dạng lỏng hoặc dạng rắn còn có thể gây tổn thương một số cơ quan khác.

Mức độ nguy hại của bệnh sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ như loại hóa chất, thời gian phơi nhiễm, môi trường phơi nhiễm, các sơ cứu đã được thực hiện trước đó hoặc các biện pháp bảo hộ có được sử dụng hay không,… 

Bệnh viêm phổi có nguy hiểm không? 

Mặc dù bệnh hoàn toàn có thể phòng ngừa và chữa trị được, song có thể khẳng định đây là một bệnh lý hết sức nguy hiểm và có thể gây tử vong cho cả người lớn và trẻ em. Theo các số liệu thống kê từ WHO, có tới gần 1 triệu trẻ em đã chết bởi bệnh viêm phổi vào năm 2018.

Bệnh viêm phổi có nguy hiểm không?

Bệnh viêm phổi có nguy hiểm không?

Trong đó, tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi chiếm tới 15%. Tại Việt Nam, trung bình mỗi năm có đến 2,9 triệu lượt trẻ em mắc bệnh. Còn đối với người lớn, cứ 20 người mắc bệnh này thì sẽ có 1 người tử vong. Đó là chưa kể những con số khủng khiếp mà bệnh do virus Corona gây ra trong đại dịch Covid-19 gần đây.

Khi bị bệnh, đặc biệt là viêm phổi cấp tính, các triệu chứng của bệnh sẽ nhanh chóng tiến triển chỉ trong thời gian ngắn. Nếu không được điều trị kịp thời, chúng sẽ gây ra các biến chứng hết sức nguy hiểm như áp xe phổi, tràn mủ màng phổi, suy hô hấp nặng, viêm màng ngoài tim,…

Vì thế, bạn nên chủ động tới các bệnh viện để thăm khám càng sớm càng tốt, nhất là khi gặp phải các biểu hiện như sốt cao, sốt dài ngyaf, khó thở, hụt hơi, đau tức ngực, ho ra đờm hoặc ra máu,….

Chẩn đoán viêm phổi 

Để chẩn đoán bệnh, ngoài các dấu hiệu lâm sàng kể trên, người ta còn dựa vào các kết quả xét nghiệm hình ảnh và công thức máu để đưa ra kết luận. Cụ thể, khi nghe phổi sẽ có ran, gõ phổi đục. Kết quả chụp X-quang phổi cho thấy các tổn thương nhu mô ở phế nang hoặc mô kẽ phổi, phổi có hang, đông đặc hoặc thâm nhiễm, kèm theo đó có thể là tình trạng tràn dịch màng phổi. Quá trình xét nghiệm sẽ giúp cho bác sĩ nhận định chính xác được căn bệnh viêm phổi này.

Khi xét nghiệm công thức máu, ta sẽ thấy số lượng bạch cầu tăng cao do tình trạng nhiễm khuẩn. Đồng thời, khi soi cấy đờm, cấy máu sẽ phát hiện ra vi khuẩn gây bệnh hoặc kháng nguyên virus. Nếu đo nồng độ oxi và cacbon dioxit sẽ thấy tỷ lệ oxy giảm mạnh, thán khí trong máu tăng cao. Điều này chứng minh cho tình trạng suy hô hấp ở người bệnh.

Phác đồ điều trị viêm phổi của Bộ Y Tế

Đây là bệnh lý về hô hấp đặc biệt nguy hiểm, có khả năng gây tử vong. Vì thế, Bộ Y tế đã đưa ra một phác đồ điều trị riêng dành cho bệnh lý này. Theo đó, việc xử lý bệnh ra sao sẽ phụ thuộc rất nhiều vào nguyên nhân gây bệnh cũng như tình trạng sức khỏe cụ thể của bệnh nhân.

Theo đó, người bệnh trước tiên sẽ được theo dõi và xác định nhóm nguyên nhân gây bệnh. Nếu là nhóm viêm phổi có khả năng lây lan cao trong cộng đồng, cần thực hiện cách ly ngay lập tức và có những biện pháp điều trị tiếp theo.

Nguyên tắc chung khi điều trị bệnh của Bộ Y tế chính là xử trí tùy theo mức độ nghiêm trọng của người bệnh. Với những bệnh nhân bị suy hô hấp, cần phải chuyển đến khoa Hồi sức tích cực ngay lập tức để điều trị.

Riêng với nhóm viêm phổi do vi khuẩn, khi chưa thể xác định chính xác chủng vi khuẩn gây bệnh là gì, bác sĩ có thể lựa chọn các kháng sinh dựa theo các yếu tố nguy cơ. Ví dụ như: Quy mô chủng vi khuẩn ở địa phương, mức độ nghiêm trọng của bệnh, tuổi tác và các bệnh lý nền người bệnh gặp phải, các tương tác hoặc tác dụng phụ của thuốc,…

Tìm hiểu phác đồ điều trị viêm phổi cua BYT

Tìm hiểu phác đồ điều trị viêm phổi cua BYT

Sau khi có kết quả vi khuẩn học, các bác sĩ sẽ lên một phác đồ điều trị nội trú tại bệnh viện kèm theo kháng sinh đồ. Tùy theo tình trạng sức khỏe cụ thể mà người bệnh sẽ được phân vào nhóm nguy cơ cao hoặc nguy cơ thấp. Tất nhiên, phác đồ điều trị cho hai nhóm này cũng có sự khác biệt. Song song với liệu trình điều trị bằng khangs sinh, người bệnh cũng sẽ được theo dõi chức năng của gan và thận 2 lần/tuần.

Với những bệnh nhân viêm phổi thuộc nhóm nguy cơ thấp, chức năng gan thận vẫn bình thường thì có thể sử dụng paracetamol để hạ sốt khi thân nhiệt vượt quá 38,5 độ C. Tuy nhiên, người bệnh không được dùng quá 4 viên/ngày. Trong suốt quá trình điều trị, cần chú ý bù nước và điện giải cho bệnh  nhân. Đồng thời, biện pháp thở oxy có thể được thực hiện nhằm duy trì SpO2 đạt trên 90%.

Phòng ngừa viêm phổi

Viêm phổi là bệnh lý xảy ra chủ yếu do nguyên nhân vi khuẩn và virus. Đây là hai nhóm nguyên nhân có khả năng lây nhiễm rất cao, vì thế phương pháp phòng ngừa bệnh tốt nhất chính là giữ khoảng cách an toàn với những người xung quanh. Hãy rèn thói quen đeo khẩu trang khi đi ra ngoài, che miệng khi ho, hắt hơi và rửa tay bằng nước sạch, xà phòng khi từ bên ngoài trở về nhà. Nếu gia đình bạn có trẻ nhỏ, hãy hạn chế đưa bé đến những nơi đông người hoặc tiếp xúc với người lạ, đặc biệt là những người đang bị cảm lạnh, cảm cúm. Đồng thời, chú ý giữ gìn vệ sinh tai mũi họng luôn sạch sẽ và khô thoáng.

Bên cạnh đó, môi trường sống xung quanh cũng cần được đảm bảo sạch sẽ, an toàn để hạn chế tối đa các nguy cơ gây bệnh viêm phổi. Hãy hạn chế đến những nơi có nhiều khói bụi, khói thuốc lá. Đồng thời, giữ cho không khí xung quanh luôn thoáng đãng để hạn chế sự sinh sôi của vi khuẩn, virus hoặc nấm mốc.

Ngoài ra, một chế độ luyện tập, sinh hoạt và dinh dưỡng cân bằng, hợp lý sẽ là chìa khóa để bạn có một hệ miễn dịch khỏe mạnh. Đặc biệt, trong những ngày trời hanh khô, hãy chú ý uống đủ nước, bổ sung thêm vitamin C để tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Tuy nhiên, dù có nhiêu biện pháp phòng chống, chúng ta vẫn chỉ thực sự an toàn trước bệnh tật khi có vacxin phòng chống. Hiện nay, một số chủng virus gây viêm phổi đã có vacxin phòng ngừa riêng. Vì thế, hãy chú ý tiêm ngừa vacxin cho chính bản thân bạn cũng như trẻ nhỏ để giảm nguy cơ mắc phải những biến chứng nguy hiểm của căn bệnh này.

Trên đây là tổng hợp những thông tin cơ bản và tổng quan nhất về căn bệnh viêm phổi. Hi vọng qua bài viết, bạn đọc đã có thêm những kiến thức hữu ích để chăm sóc sức khỏe cho bản thân và những người xung quanh. Cảm ơn các bạn đã đón đọc!

WHO Viet Nam
Logo