Công ước luật biển 1982: Nhiệm vụ bảo vệ CÔNG BẰNG 70% diện tích Trái Đất

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển hay còn được gọi với tên gọi khác là công ước luật biển 1982 là một hiệp ước quốc tế được tạo ra trong Hội nghị về luật biển Liên Hợp Quốc được diễn ra từ năm 1973 tới 1982. Bảng hiệp này chính thức được ký kết vào 10/12/1982 và bắt đầu có hiệu lực từ 16/11/1994.

Nhiệm vụ của bảng công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển

Nhiệm vụ của bảng công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển

Như các bạn đã được biết thì bề mặt trái đất chiếm tới 70% là diện tích là biển, với nguồn tài nguyên và khoáng sản dồi dào, chính vì thế đây được cho là một miếng bánh lớn để rất nhiều quốc gia xâm chiếm, mở rộng vùng biển của đất nước mình.

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển lúc này được lập ra nhằm quy định về sử dụng các đại dương trên thế giới. Tính đến tháng 10/2014 thì hiện tại có tới 167 quốc gia và cộng đồng Châu Âu tham gia vào bảng công ước này.

Đây là một văn kiện đồ sộ bao gồm 320 điều khoản, 9 phụ lục cùng với đó là hơn 1000 quy định pháp luật. Bảng công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển là mong muốn của rất nhiều các quốc gia về một trật tự pháp lý mới về các vấn đề liên quan tới biển và đại dương.

Bảng công ước luật biển 1982 quy định các nước tham gia cần phải có trách nhiệm trọng sử dụng tài nguyên biển, có những cách hướng dẫn rõ ràng về hoạt động kinh doanh, giao thương, bảo vệ môi trường và nguồn khoáng sản trên biển.

Những nội dung quan trọng trong công ước luật biển 1982

Những nội dung quan trọng trong công ước luật biển 1982

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển sẽ có nhiệm vụ quy định đến các vùng biển của các quốc gia ven biển hoặc có chủ quyền biển, cũng như vấn đề khai thác những vùng biển này hợp lý nhất. Một số nội dung quan trọng có trong bảng công ước luật biển 1982 sẽ được quy định bao gồm:

  1. Những quốc gia ven biển cần phải thực hiện đầy đủ những chủ quyền đối với vùng lãnh hải mà họ thiết lập không quá 12 hải lý. Phần chủ quyền này cũng phải là tuyệt đối vì nhiều trường hợp tàu thuyền nước ngoài di chuyển qua nhưng vô hại trong vùng lãnh hải này. Những trường hợp tàu thuyền được phép đi quá cảnh qua những vùng biển eo hẹp được sử dụng là vùng biển quốc tế.
  2. Vùng đặc quyền kinh tế, ranh giới lãnh hải cũng  như thềm lục địa sẽ được xác định dựa vào các quy tắc đã được áp dụng với đất liền. Đối với những vùng đất không có người sinh sống(tức là không thể tạo lập được đời sống và trao đổi mua bán một cách thường xuyên) thì sẽ không được tạo vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa. Những quốc gia sở hữu vùng biển có thể tự điều tiết lưu thông hàng hải sao cho phù hợp nhất.
  3. Những quốc gia ven biển sẽ có chủ quyền tối đa với vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa là 200 hải lý, một số hoạt động kinh tế và đàm phát hoạt động nghiên cứu khoa học. Những quốc gia khác hoàn toàn có thể tự do hàng hải và đặt cáp ngầm, đường ống trên vùng biển này.
  4. Theo quy định của công ước luật biển 1982 thì đối với những quốc gia sở hữu quần đảo hoặc nhóm đảo gần nhau thì sẽ được thừa hưởng luôn cả vùng chủ quyền nằm trên điểm xa nhất của các hòn đảo, tại vùng biển được sở hữu các quốc gia có thể tự thiết lập những tuyến đường hàng hải và cho các quốc gia khác có thể qua lại vùng biển này bằng đường đã định sẵn.
  5. Các quốc gia không có biển hoặc không có lợi thế về vị trí địa lý cũng được tham gia vào bảng công ước luật biển năm 1982 trên cơ sở được khai thác một phần dư các tài nguyên thiên nhiên có trong khu đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển khác.
  6. Những quốc gia sở hữu biển sẽ có đặc quyền với phần thềm lục địa trong quá trình khai thác khoáng sản và nguồn tài nguyên thiên nhiên. Phần thềm lục địa này được kéo dài khoảng 200-350 hải lý tính từ bờ biển. Các quốc gia ven biển này sẽ có trách nhiệm chia sẻ với thế giới phần lợi tức khai thác được với cộng đồng quốc tế.
  7. Đối với những trường hợp các quốc gia có chung đường biên giới vùng biển thì cần phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau nhằm quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, cũng như phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học.
  8. Những quốc gia không có vùng biển thì có thể tiếp cận với biển bằng biện pháp tự do quá cảnh thông qua một quốc gia ven biển nào đó để được ra biển
  9. Tất cả các nước khi ký kết vào công ước luật biển 1982 đều có quyền được tự do hàng hải, nghiên cứu khoa học và đánh bắt trên vùng biển quốc tế. Bảng công ước yêu cầu các quốc gia cần kết hợp chặt chẽ với nhau trong việc bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên.
  10. Đối với các quốc gia không có biển, hay quản lý vùng biển khác khi thực hiện nghiên cứu hay khai thác trên thềm lục địa của quốc gia sở hữu vùng biển này cần phải được sự đồng ý. Tuy nhiên đa số các quốc gia ven biển đều đồng ý với những trường hợp nghiên cứu về mục đích hòa bình.
  11. Khi xảy ra tranh chấp các quốc gia cần giải quyết bằng các biện pháp hòa bình các tranh chấp liên quan đến việc hiểu công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển. Các tranh chấp sẽ được trình lên Tòa án quốc tế về luật biển để phán quyết.

Việt Nam và công ước luật biển 1982

Việt Nam và công ước luật biển 1982

Vào ngày 23/6/1994 Việt nam là một trong số 107 quốc gia thực hiện ký kết bảng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển ở Montego Bay. Hành động này là một bước đi thể hiện rõ quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác giữa các quốc gia trên biển.

Ngoài ra, khi tham ra bảng công ước này cũng là cách Việt Nam khẳng định với thế giới về quyền chủ quyền, và quyền tài phán đối với vùng biển hoặc khu đặc quyền kinh tế…Yêu cầu các quốc gia khác tôn trọng trước chủ quyền của trên vùng biển của VIệt Nam.

Với việc tham gia vào công ước luật biển 1982 thì Việt Nam được tính là một quốc gia ven biển và được thừa nhận vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc khu kinh tế rộng 200 hải lý. Vùng biển mà Việt Nam được thừa hưởng theo bảng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển lên tới gần 1.000.000 Km2.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *